"Cầu Nối Đam Mê – Thăng Hoa Đẳng Cấp"

Luật Golf

Gió làm di chuyển bóng – Bị phạt hay không?

  • PDF
( 0 Votes )

Từ ngày 1/1/2012, câu trả lời cho câu hỏi trên là “Không” tuy nhiên trước đó câu trả lời lại là “Có”.

gio-lam-di-chuyen-bong-bi-phat-hay-khong
Bóng bị di chuyển bởi gió

Tháng 7 hàng năm chứng kiến sự kiện Open Championship diễn ra tại những sân gôn tốt nhất và nổi tiếng nhất trên thế giới mang đến những màn trình diễn đẹp mắt nhưng cũng ẩn chứa những mối lo lắng của các gôn thủ. Một trong những mối lo phổ biến đó là vấn đề gió làm di chuyển bóng. Điều này phụ thuộc hoàn toàn vào mặt green trơn hoặc mấp mô cũng như điều kiện sân tùy vào tình hình thời tiết.

Từ ngày 1/1/2012, câu trả lời cho câu hỏi trên là “Không” tuy nhiên trước đó câu trả lời lại là “Có”. Theo luật cũ, một khi gôn thủ đã vào tư thế chuẩn bị, anh ta sẽ phải chịu toàn bộ trách nhiệm về việc dịch chuyển của bóng, bất kể là điều gì gây ra chuyển động đó. Giả sử khi 1 gôn thủ vào vị trí chuẩn bị, một cơn gió thổi đến làm dịch chuyển bóng, gôn thủ sẽ bị phạt. Không hề bất ngờ rằng điều luật này không được lan truyền rộng rãi, bởi hầu hết đều cho rằng điều luật này khá bất công với gôn thủ khi họ bị phạt bởi 1 thứ nằm ngoài tầm kiểm soát. Một loạt những trường hợp xử phạt thu hút chú ý của công chúng tại giải pro tour 2010 và 2011 đã được đánh giá lại, đưa điều luật này ra thảo luận.

2 cơ quan điều hành USGA và R&A đã quyết định điều chỉnh luật 18-2B (bóng di chuyển sau khi chuẩn bị). Theo luật mới áp dụng từ ngày 1/1/2012, luật phạt gôn thủ khi gió làm di chuyển bóng sau khi chuẩn bị đã được gỡ bỏ.
Thông báo về việc thay đổi luật 18-2B, USGA viết:
“Trường hợp ngoại lệ được bổ sung là gôn thủ sẽ không bị phạt khi biết chắc chắn rằng bóng di chuyển không phải do hành động của gôn thủ gây nên. Ví dụ, nếu gió làm dịch chuyển bóng sau khi gôn thủ vào tư thế chuẩn bị, gôn thủ sẽ không bị phạt và sẽ chơi bóng từ vị trí mới.”
Lưu ý luật 18-2B vẫn phạt gôn thủ 1 gậy trong trường hợp bóng di chuyển sau khi chuẩn bị nếu sự dịch chuyển đó gây ra bởi bất cứ hành động nào của gôn thủ (tất nhiên, trừ trường hợp đánh bóng).

10 điều "làm" và 10 điều "không nên làm" trong golf

  • PDF
( 0 Votes )

* Mười điều "LÀM" trong golf

1, Respect the rules of the golf course you are playing.
(tôn trọng luật)

2, Be aware of other golfers on the course.
(tôn trọng bạn chơi)

3, Leave the course in the same condition that you found it, if not in better.
(ý thức giữ gìn sân chơi)

4, Play at a reasonable pace.
(chơi với tốc độ hợp lý)

5, Be ready to hit when it is your turn!
(luôn sẵn sàng khi đến lượt mình đánh)

6, Be quiet while someone is preparing to hit and hitting their shot.
(hãy yên lặng khi người khác đánh)

7, Play in the order you discuss with your group.
(chơi theo đúng thứ tự)

8, Putt in the appropriate order
(Putt bóng theo đúng thứ tự phù hợp)

9, Make sure you are playing the correct ball.
(đảm bảo sử dụng đúng bóng)

10, Make sure the flag is all the way in the hole before leaving the green.
(đặt lại cờ đúng vị trí sau khi hoàn thành hố).

10-dieu-lam-va-10-dieu-khong-nen-lam

* Mười điều "KHÔNG NÊN LÀM" trong golf
1, Walk across the line of another player’s putt on the green.
(Dẫm vào line golfer khác)

2, Hold up other players.
(Không nhường cho nhóm chơi nhanh hơn mình)

3, Throw your clubs.
(Ném gậy golf)

4, Walk off the green before everybody has finished putting.
(Rời khỏi Green trước khi mọi người hoàn thành hố)

5, Leave your shadow over someone’s ball when they are hitting.
(Đứng che ánh sáng golfer khác khi họ chuẩn bị đánh)

6, Use your cell phone during the round.
(Sửa dụng điện thoại trong khi đánh)

7, Stand behind someone while they are hitting.
(Đứng sau golfer khác khi họ đang đánh)

8, Spend too much time looking for a lost ball.
(Dành quá nhiều thời gian để tìm bóng)

9, Show up late.
(Đến trễ)

10, Drive the golf cart wildly.
(Lái xe Cart đi lung tung)

Đánh giá độ khó của sân golf qua Course rating & Slope rating

  • PDF
( 0 Votes )

1, Course rate:

Course Rate là giá trị mô tả độ khó của sân golf được đưa ra bởi USGA. Giá trị dùng để ước lượng số gậy một “người chơi tiêu chuẩn” (Scratch golfer) cần phải thực hiện để hoàn tất 18 hố trong điều kiện mặt sân và thời tiết trung bình. Giá trị độ khó của sân (hoặc từng tee) được quy đổi về thập phân và dựa trên chiều dài đường đánh, hiệu quả của cú đánh và các chướng ngại vật khác đối với người chơi. Ví dụ một sân golf có Course rating là 74.8 có nghĩa một “người chơi tiêu chuẩn” sẽ mất trung bình 74.8 gậy để hoàn tất. Hầu hết các sân golf có Course rating giao động từ 60 đến 75.

Oakmont-Country-Club-holes

“Người chơi tiêu chuẩn” (Scratch golfer) nếu là nam giới thì phải là một tay golf nghiệp dư có HDC là 0, phát bóng trung bình 250 yards, đánh 2 gậy lên green ở đường 470 yards. Nếu là nữ thì phải phát bóng được 210 yards và đưa bóng lên green bằng 2 gậy ở đường dài 400 yards.

Những sân golf tham gia hệ thống USGA Handicap System (toàn bộ sân golf ở Việt Nam) đánh giá Course rate theo từng nhóm tee như tee đầu tiên, tee kế tiếp, tee giữa, tee cuối… Ngoài ra, Course rate còn phân chia theo giới tính. Ví dụ: Tee trắng: 67,5 đối với nam/ 71,5 đối với nữ. (Tham khảo bản quy đổi Course rate & Slope rate cho người chơi nữ trên teebox chưa được đánh giá)

Những người chơi golf đều biết chỉ số Course rate khá quan trọng đối với việc tính HDC. Tuy vậy, không phải sân golf nào cũng được chính USGA đánh giá, kiểm tra thường niên và cập nhật chỉ số độ khó của sân Course rate.

2, Slope rating:

Slope rate được tính từ giá trị khác biệt giữa Bogey rate và Course rate trên từng loại tee. Slope rate được thể hiện bằng số nguyên và thường dao động trong khoảng 55-155. Một sân golf có độ khó tiêu chuẩn sẽ có Slope rate là 113, đây cũng là hằng số trong tính toán HDC cho người chơi ở các sân có độ khó khác nhau.

Nói cách khác, Course rate thể hiện mức độ khó khăn mà một sân xác định gậy ra cho “người chơi tiêu chuẩn” còn Slope rate thể hiện mức độ khó khăn của sân gây ra cho “người chơi bogey”. Nếu bạn cảm thấy chưa rõ ràng thì có thể hiểu nôm na rằng USGA Course rate nói lên độ khó của sân dành cho những người chơi tốt nhất còn USGA Slope rate nói lên độ khó ở mức độ người chơi phổ thông như tôi chẳng hạn.

“Người chơi bogey (bogey golfer) nếu nam giới là người chơi có handicap khoảng 20 trên một sân có độ khó tiêu chuẩn. Yêu cầu đối với người này phải phát bóng trung bình 200 yards và đưa bóng lên green trong vòng 2 gậy ở đường dài 370 yards. Nếu là nữ, yêu cầu handicap khoảng 24, phát bóng được 150 yards và đưa bóng lên green trong vòng 2 gậy ở đường dài 280 yards.”

“Bogey rate là giá trị thể hiện sự khó khăn của người chơi bogey trong điều kiện giả định rằng mặt sân và thời tiết bình thường. Cũng như Course rate, Bogey rate thể hiện số gậy một người chơi bogey cần phải đánh để hoàn tất vòng đấu qua con số thập phân. Ví dụ: 92,1. Chỉ số Bogey rate phụ thuộc vào chiều dài đường đánh, hiệu quá của những cú đánh và những chướng ngại vật đối với người chơi bogey.”

Giá trị tối thiểu của Slope rate là 55 và tối đa là 155 và cho sân golf có độ khó trung bình là 113. Tuy vậy Slope rate không liên quan mật thiết đến số gậy của người chơi nhưng giống như Course rate, Slope rate cũng được tính theo từng nhóm tee, từng sân (9 hố) và có chia ra độ khó cho người chơi nữ riêng.

Chiều dài đường đánh: Đây là yếu tố quyết định độ khó quan trọng nhất. Nó không phải là chiều dài đường golf trên thực tế mà là chiều dài mà người chơi phải thực hiện để hoàn tất đường golf đó.
Bóng lăn: Bóng lăn được bao nhiêu xa sau khi phát bóng?
Độ dốc: Đường golf lên dốc hay xuống dốc tính từ tee lên green và dốc bao nhiêu?
Cua ngoặt và chướng ngại vật trước điểm bóng rơi.
Gió: Gió có đổi hướng và có tác động đến đường bóng hay không?
Độ cao: Thường để phân biệt sân golf ở đồng bằng với những sân có độ cao từ 600m so với mực nước biển trở lên.
Các yếu tố gây trở ngại (bẫy) ở khu vực bóng rơi ở cả người chơi tiêu chuẩn và người chơi bogey.
Địa hình: Địa hình quyết định vùng bóng rơi và hướng đánh bóng của người chơi lên green.
Fairway: Độ khó tính bằng số lượng bóng nằm trên fairway trong khi đánh bóng từ tee lên green. Các yếu tố khác bên trong bao gồm bề rộng khu vực rơi bóng, độ nghiêng trung bình và bề rộng fairway.
Green: Độ khó của green xác định bằng cách đánh bóng lên green, tổng hợp giữa kích thước green và chiều dài của cú đánh bóng từ vị trí tiêu chuẩn lên green (vị trí bóng rơi cuối hoặc teebox).
Rough và vùng đệm: Đánh giá bằng độ khó khi cứu bóng từ khu vực này. Giá trị này cũng phụ thuộc vào giá trị độ khó của green.
Bẫy cát: Hố cát quanh green được đánh giá bằng diện tích che phủ và độ sâu. Hố cát fairway chỉ tính số lượng và không có giá trị độ khó cao như hố cát quanh green. Giá trị này cũng phụ thuộc vào giá trị độ khó của green.
O.B, cỏ dài: Độ khó được tính bằng khoảng cách từ trung tâm vùng bóng rơi đến O.B hoặc cỏ dài. Các yếu tố ảnh hưởng có tính đến cả đường nội bộ và hàng rào.
Bẫy nước: Độ khó các kiểu bẫy nước dựa trên sự nguy hiểm sau mỗi cú đánh. Chính xác hơn là khoảng các giữa trung tâm khu vực bóng rơi hoặc green đến bẫy.
Cây xanh: Yếu tố độ khó quyết định bởi chiều dài cho phép thực hiện cú đánh và khả năng cứu bóng nếu như chạm phải cây. Ngoài ra còn xem xét tới vị trí, quy mô và mật độ trồng cây.
Mặt green: Khác với yếu tố bề rộng của green, yếu tố này quan tâm đến độ khó của một người chơi gạt bóng. Trong đó giá trị quan trọng nhất là tốc độ bóng (trong một khoảng thời gian nhất định. Đây cũng là lý do độ khó của sân phải được kiểm tra thường xuyên chứ không phải làm một lần, áp dụng mãi mãi như các sân ở Việt Nam).
Tâm lý: Giá trị từ ảnh hưởng tổng hợp của điều kiện sân bãi, chướng ngại vật tác động đến người chơi. Giá trị này đơn thuần là tính toán và sẽ bổ sung sau khi đánh giá về sân golf kết thúc.
Các yếu tố trên được đánh giá từ 1-10 phụ thuộc vào cách những người tham gia đánh giá tìm cách hoàn tất vòng đấu. Khi đánh giá hoàn thành, số liệu cho các yếu tố được tổng hợp và tính toán theo công thức phù hợp để cho ra giá trị độ khó cho sân golf cần thiết (sẽ giới thiệu trong phần 4).

USGA khuyến nghị các sân golf nên thường xuyên cập nhật độ khó của sân. Với sân golf mới nên cập nhật 3 năm/lần trong 10 năm đầu, sau đó thì 10 năm/lần. Nhưng với những trường hợp thay đổi lớn trong sân golf thì yêu cầu phải tái đánh giá ngay, vì dụ các trường hợp: Thay đổi vị trí tee, thay đổi bề mặt và kích thước green, bỏ hoặc thêm hố cát cũng như chướng ngại vật, O.B, cây…

Khi đánh giá độ khó của một sân golf, 10 yếu tố sau được coi là yếu tố gây trở ngại: Địa hình, dễ hay khó đưa bóng lên fairway, xác suất đánh lên green từ fairway, khả năng rơi vào và cứu bóng khỏi rough, độ khó và xác xuất lọt vào hố cát, xác suất bị O.B, độ khó của bẫy nước, tác động của cây xanh, tốc độ của green. Cuối cùng là yếu tố tổng hợp bao gồm cả tác động tâm lý của tất cả các yếu tố. Những yếu tố này được đánh giá theo thang điểm từ 0 đến 10, sau chi chấm điểm sẽ được tổng hợp thành “Mức độ trở ngại gây ra cho người chơi”.

Nhóm đánh giá thường có từ 4 người trở lên gồm 2 người chơi tiêu chuẩn (một nam, một nữ) và 2 người chơi bogey (một nam, một nữ). Họ sẽ chơi tất cả các tee và chấm điểm để tổng hợp tính toán theo công thức:

Course Rate = Yardage rate của người chơi tiêu chuẩn + Mức độ trở ngại gây ra cho người chơi tiêu chuẩn
Bogey Rate = Yardage rate của người chơi bogey + Mức độ trở ngại gây ra cho người chơi tiêu chuẩn
Riêng cách tính Slope rate có phần phức tạp hơn khi phân biệt rõ ràng giữa nam và nữ.
Slope rate của nam giới = 5.381 x (Bogey rate – Course rate)
Slope rate của nữ giới = 4.24 x (Bogey rate – Course rate)
Rất nhiều người nghĩ sân golf có Slope rate càng cao thì càng khó. Điều này đúng nhưng không hoàn toàn chính xác vì độ khó của Slope rate tỉ lệ thuận với độ khó của sân golf nhưng mức độ trở ngại lại khác nhau ở người chơi bogey (HDC=20) và người chơi tiêu chuẩn (HDC=0). Ví dụ: Đường par 4, 480 yards, dogleg trái ở cự ly 250 yards thì người chơi bogey có thể mất đến 5 gậy để hoàn tất còn người chơi tiêu chuẩn có thể chỉ mất 3 gậy vì có thể đánh tắt.

Lệnh cấm sử dụng gậy putt cán dài có neo vào phần trên cơ thể đã có hiệu lực 1/1/2016

  • PDF
( 0 Votes )

Ngày 1/1/2016 là ngày lệnh cấm sử dụng gậy putt cán dài có neo vào phần trên cơ thể của golfer khi thi đấu sẽ có hiệu lực. Điều này có nghĩa là việc tỳ gậy vào vai, cằm, tai hay bất cứ phần nào ngăn cản gậy trong quá trình swing đều bị cấm. Nhưng chắc chắn sẽ có nhiều nhầm lẫn trong luật mới này mà chúng ta có thể không để ý tới:

lenh-cam-su-dung-gay-putt-can-dai-co-neo-vao-phan-tren-co-the-da-co-hieu-luc

1. Gậy cán dài vẫn được sử dụng?

USGA và R&A thông qua việc cấm sử dụng gậy putt cán dài có neo vào phần trên cơ thể để putt bóng. Điều này được thể hiện trong luật 14-1b, luật này nói như sau: "Khi thực hiện cú đánh, người chơi không được neo gậy, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp bằng cách sử dụng một điểm neo". Phát biểu về luật mới này giám đốc điều hành của USGA là Mike Davis muốn chỉ rõ rằng: "Việc luật này được đưa ra không có nghĩa chúng tôi muốn làm tổn thương những người đang sử dụng cách thi đấu này. Chúng tôi muốn chỉ rõ rằng luật trên không hạn chế những gậy putt "phù hợp". Tất cả việc mà các golfer cần làm là để gậy xa phần cơ thể, nơi bạn chỉ kiểm soát cú đánh bằng đôi tay của mình. Do đó gậy cán dài tới vai hay tới bụng các golfer vẫn được sử dụng bình thường"

Read more...

Tìm hiểu về cán gậy

  • PDF
( 1 Vote )
Tìm hiểu về cán gậy - 3.0 out of 5 based on 1 vote

Chuyên gia Phạm Minh Đức chia sẻ thông tin thú vị về cán gậy và những hiểu lầm thường thấy của người dùng.
Cán gậy (shaft) luôn được coi là một trong những thành phần quan trọng nhất trên một cây gậy bởi đây là phần truyền năng lượng và tốc độ từ tay cầm tới đầu gậy, mang yếu tố quyết định đến việc golfer có tiếp xúc bóng hiệu quả hay không. Các thông số trên cán gậy không ít khi khiến người chơi băn khoăn liệu có phù hợp với mình hay không. Bài viết dưới đây sẽ giúp các bạn lý giải nhiều điều thú vị và những hiểu nhầm thường thấy khi cân nhắc cán gậy.

tim-hieu-ve-can-gay


Có những loại cán gậy nào?

Ngày nay hai loại chất liệu phổ thông nhất được dùng để sản xuất cán gậy là graphite và thép, trong đó cán graphite được làm từ các sợi carbon tổng hợp và thép dùng làm cán gậy thường chỉ là thép không gỉ hoặc thép carbon, và thường được biết đến dưới tên gọi quen thuộc tại Việt Nam là cán “sắt”. Trước đây cả bộ gậy thường được làm từ cán thép cho đến khi cán graphite lần đầu được phát triển và sử dụng vào năm 1970. Cán graphite có ưu điểm là nhẹ nên ngày nay luôn được sử dụng cho gậy driver và cũng khá phổ biến với các dòng gậy sắt. Trong khi đó cán thép thường sẽ mang lại cảm giác “đầm tay” do trọng lượng nặng hơn và có chi phí sản xuất thấp nên giá thành rẻ hơn khá nhiều so với các loại cán graphite.

tim-hieu-ve-can-gay1


Người mới chơi chỉ nên dùng cán graphite còn người chơi tốt nên dùng cán sắt?

Những người mới chơi thường chưa có được tốc độ đầu gậy như khả năng tối đa của họ nên sẽ cảm thấy cán gậy graphite thân thiện hơn. Tuy nhiên điều này không có nghĩa họ không nên bắt đầu tập với cán gậy sắt. Tất cả đều liên quan đến cảm nhận của người chơi cũng như kết quả đường bóng bay lên. Cán gậy graphite phần lớn mềm hơn cán sắt nhưng bản thân chất liệu graphite với trọng lượng nhẹ không phải là yếu tố làm nên điều này. Có những dòng graphite cứng có thể làm đường bóng bay thấp và vì thế thậm chí còn được một số golfer chuyên nghiệp sử dụng. Nếu bạn là người mới tập chơi golf nhưng trước đây có chơi nhiều môn thể thao khác thì có thể khả năng thích nghi của bạn sẽ nhanh và một số loại cán sắt có thể giúp bạn cảm thấy chắc tay và tập tốt ngay từ đầu. Cách dễ nhất để biết được loại nào phù hợp ban đầu chính là cách thử cả hai. Ngay cả khi mới tập chơi bạn cũng sẽ cảm nhận được 30 – 40g chênh lệch giữa cán graphite và cán sắt. Sự ổn định của đường bóng và cảm nhận cá nhân sẽ cho bạn câu trả lời.

Cán càng cứng càng đi xa, cán càng mềm càng “trợ lực”?

Cán gậy cứng sẽ phù hợp với những người có tốc độ đầu gậy tốt và nhịp chuyển nhanh giữa back swing và down swing. Họ đã có sẵn khả năng đánh bóng xa nên thường hay lựa chọn cán gậy như vậy chứ không phải ngược lại. Cán gậy mềm, thường là cán graphite, cong nhiều hơn ở phía gắn đầu gậy nên khi di chuyển theo lực li tâm người chơi sẽ cảm giác “vẩy” hơn do cánh tay đòn (cán gậy) có phần cong nhẹ nhờ cấu tạo bên trong và mật độ carbon của cán gậy. Khái niệm “trợ lực” thường được dùng để chỉ những cán gậy dễ đánh, đơn thuần do đặc tính của loại cán gậy đó thường nhẹ, mềm, độ xoắn cao. Lưu ý rằng không phải cán graphite nào cũng sẽ cho bạn cảm giác “trợ lực”.

tim-hieu-ve-can-gay2


Cán R là tiêu chuẩn?

Thực tế không có một “tiêu chuẩn” nào được dùng chung cho tất cả các hãng, cũng tương tự như khi các golfer đi mua quần áo vậy, mỗi hãng sẽ có những số đo và tiêu chuẩn riêng. Cán R của hãng này cũng có thể sẽ nặng hoặc cứng tương đương cán S của hãng khác. Các thương hiệu đến từ Nhật thường có cách phân loại cán L, R hay S khá “nhẹ nhàng”, trong khi đó các hãng gậy phương Tây thường có tiêu chuẩn cứng hơn khá nhiều nên golfers sẽ cảm thấy sự khác biệt rõ ràng khi so sánh hai loại cán cùng ký hiệu. Không những thế với gậy driver các dòng gậy Nhật thường có chiều dài tiêu chuẩn 46’’ với mục đích tăng tốc độ đầu gậy dựa vào chiều dài cán gậy và điều này cũng sẽ khiến cán gậy có cảm giác mềm hơn. Các hãng khác như Titleist lại luôn sử dụng chiều dài 45’’ với các gậy driver tiêu chuẩn vì đây là chiều dài an toàn trước khi các golfer phải đứng quá xa bóng với cán gậy dài hơn và mất dần kiểm soát. Trên thị trường hiện nay có một số hãng sản xuất cán SR như là một sự lựa chọn giữa S và R nếu golfer còn phân vân. Thực tế đây cũng chỉ là một cách ký hiệu sản phẩm và không phải hãng nào cũng có cán SR. Thông thường cán gậy SR sẽ chỉ tương đương với cán R của các hãng không có ký hiệu này. Cách chắc chắn nhất để biết cán gậy cứng mềm ra sao bạn nên đến các buổi demo sản phẩm của các hãng và cảm nhận chứ không nên chỉ dựa vào thông số của nhà sản xuất để chọn cán gậy cho mình.

Từ điển golf

  • PDF
( 0 Votes )

Chúng tôi giới thiệu cẩm nang một số từ điển thuật ngữ Golf cơ bản để các Golfer có thể tự tin lên sân chinh phục môn thể thao Golf.

tu-dien-golf

Line of putt (đường đẩy bóng)

Là đường mà bạn muốn bóng chạy theo khi đẩy nó trên khu lỗ cờ. Đường đẩy bóng cho phép bạn có một khoảng cách hợp lý tính vào hai bên của đường dự kiến, nhưng đường này không vượt quá lỗ golf. Golf thủ không được đứng dạng chân hay dẫm trên đường đẩy bóng.

Read more...

You are here: Góc Kỹ Thuật Luật Golf